Địa Chỉ
Số 7 Nguyễn Hữu Thấu (nối dài), Khối 7, Phường Tân Lợi, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk.
Địa Chỉ
Số 7 Nguyễn Hữu Thấu (nối dài), Khối 7, Phường Tân Lợi, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk.
PTA Meditation Center
PTA Meditation Center

Vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước, Phương Thảo Am là một khu đất trồng cây nông nghiệp. Một đạo hữu đã hiến cúng khu đất này cho Trưởng lão Giác Dũng để chăm lo đời sống kinh tế cho đạo tràng trong thời kỳ còn khó khăn. Lúc đó, Trưởng lão Giác Dũng đang là trụ trì đạo tràng Tịnh xá Ngọc Quang, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột. Được sự hỗ trợ của ban quản lý đất đai phường Thắng Lợi lúc đó, và phường Tân Lợi bây giờ, khu đất này được giữ gìn cho đến ngày nay.
Ở đây, lúc đó, Phương Thảo Am chưa hình thành.
Qua thập niên 90, Trưởng lão cho trồng cây công nghiệp lâu năm. Từ trồng khoai sắn sang trồng cà phê và điều. Thời điểm này, nhu cầu tôn giáo của người dân bắt đầu được nhà nước quan tâm. Nhu cầu học Pháp tu tập của Phật tử ngày càng cao. Nhận thấy nhu cầu đó, Trưởng lão muốn xây dựng một đạo tràng mới tại khu đất này để Phật tử và bà con thuộc phía bắc phường Thắng Lợi lúc đó, Bắc Tân Lợi bây giờ, có nơi nương tựa tâm linh và tu học Phật pháp. Năm 1997, Trưởng lão cho đào một cái giếng và dựng một cái am nhỏ để quý sư và Phật tử tránh nắng đụt mưa khi lao động làm vườn ở đây. Nhưng nơi đây đất cao quá, giếng không có nước, cà phê không phát triển, chỉ còn cây điều. Ý định dựng lập đạo tràng cũng chậm lại.
Từ những ngày đầu, Trưởng lão đã có ý định xây dựng một cơ sở tu thiền nơi đây. “Phương Thảo Am” chính là tên Trưởng lão đặt dựa trên tinh thần đơn giản, biết đủ, gần gũi với thiên nhiên. Chỉ cần một ngôi nhà đơn sơ làm bằng cây lá thoảng khí vườn rừng là đủ cho người tìm chân lý dừng chân thực hành giáo pháp của bậc giác ngộ.
Tuy nhiên, vào thời điểm này, sự quan tâm của chư tăng và Phật tử về việc học pháp tu thiền chưa cao. Duyên chưa đủ để Trưởng lão xúc tiến việc dựng lập cơ sở. Phương Thảo Am vẫn chỉ là một am nhỏ khiêm tốn trên khu đất rộng mỗi khi Trưởng lão đưa những người quan tâm đến thăm và giới thiệu. Các Phật tử đệ tử của Trưởng lão ở Nha Trang, Sài Gòn được giới thiệu đến PTA đều biết ý nguyện dựng lập cơ sở tu thiền nơi đây của Trưởng lão.
Ở đây, lúc đó, Phương Thảo Am mới được Trưởng lão Giác Dũng đặt tên và định hướng thành lập.
Bước sang năm 2000, đổi thay rõ nét hơn. Trưởng lão bắt đầu cho chư tăng ra dựng cốc tịnh tu tại Phương Thảo Am. Nhưng các sư dựng cốc chủ yếu là để yên tu, tịnh dưỡng và chữa bịnh. Ý nguyện dựng lập cơ sở tu thiền của Trưởng lão vẫn chưa ai để ý quan tâm hỗ trợ. Mặc dù đã có người ở thường xuyên, Phương Thảo Am vẫn là nơi canh tác nông nghiệp. Cây trồng chính vẫn là điều. Giếng mới được khoan và có nước. Quý sư có thể ở lại Phương Thảo Am nhiều ngày được. Sư Giác Quý là người thường xuyên phụ giúp Trưởng lão trông coi việc trồng trọt và thu hoạch nơi đây.
Ở đây, lúc đó, Phương Thảo Am vẫn chỉ là một am nhỏ khiêm tốn trên khu đất rộng mỗi khi Trưởng lão đi về.
Đến năm 2010, giai đoạn tiếp giữ đã qua, giai đoạn xây dựng bắt đầu. Công việc của Trưởng lão ở giáo hội, giáo đoàn, ban trị sự và tịnh xá hầu hết đều đã ổn định. Các đệ tử xuất gia đã trưởng thành. Thiền học bắt đầu được quan tâm nhiều hơn. Trưởng lão quyết định xây dựng một cơ sở tu tập mới tại Phương Thảo Am và giao cho Sư Giác Kiến đảm trách. Trưởng lão cân nhắc rất kỹ để chỉ hướng xây dựng một cơ sở học pháp tu thiền đáp ứng được nhu cầu tu tập chính đáng của người học đạo, đồng thời, giữ được truyền thống khất sĩ đúng như Tổ sư Minh Đăng Quang tiếp truyền.
Lúc này, Trưởng lão đi về Phương Thảo Am thường xuyên hơn. Giới thiệu Phương Thảo Am và những ý tưởng của mình cho các Phật tử quan tâm đến thiền nhiều hơn. Phần lớn là những người từ phương xa.
Ở đây, lúc này, một Phương Thảo Am với mô hình sinh hoạt mới đang hình thành trong ý tưởng của Trưởng lão.
Kế hoạch xây dựng Phương Thảo Am được thực hiện theo sự chỉ dạy của Trưởng lão.
Tháng 1 năm 2012, đợt tu thiền đầu tiên tại Phương Thảo Am bắt đầu. Ngày 27 tháng 1 năm 2012, Trưởng lão Giác Dũng đã đến Phương Thảo Am chứng minh trợ duyên và khích lệ các thiền sinh tu tập trong đợt tu đầu tiên này.
Tháng 3 năm 2012, một đợt tu nữa được tổ chức. Phương Thảo Am bắt đầu được sự quan tâm hỗ trợ của các thiền sinh từ Nha Trang, Kontum.
Tháng 4 năm 2012, xây dựng cơ bản bắt đầu với các lối đi thiền và chỗ ngồi thiền tập trung.
Tháng 7 năm 2012, các làm thủ tục hành chính, đất đai để xây dựng cơ sở theo sự chỉ dạy của Trưởng lão Giác Dũng được tiến hành.
Tháng 10 năm 2012, Sư Giác Kiến chính thức về ở Phương Thảo Am theo lời chỉ dạy của Trưởng lão Giác Dũng để xây dựng trung tâm thiền và hướng dẫn thiền sinh tu tập.
Tháng 12 năm 2012, Thiền đường Không vách được xây dựng với sự chứng minh của Trưởng lão Giác Dũng và tịnh tài do phật tử Huệ Mẫn phát tâm cúng dường.
Ở đây, một Phương Thảo Am đã thực sự hình thành dưới sự che chở và chỉ dạy của Trưởng lão.
Các khóa tu, đợt tu, các buổi tọa đàm được tổ chức thường xuyên. Các lớp thiền bắt đầu hình thành. Phương pháp thiền được phổ biến ở đây dựa trên 3 nguồn chính.
Nguồn thứ nhất là Bộ Kinh Nikaya ghi lại lời dạy của Đức Phật Thích ca Mâu Ni. Trong đó, phương pháp thiền được tìm thấy trong một số thiền kinh căn bản như Kinh Niệm Xứ, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Người biết sống an lành.
Nguồn thứ hai là Bộ Chơn Lý ghi lại pháp lý do Tổ sư Minh Đăng Quang giảng dạy. Phương pháp thiền Tổ sư giảng giải chủ yếu nằm trong bài Số Tức Quan, Nhập Định và Thần Mật.
Nguồn thứ ba là những lời hướng dẫn thiền của Trưởng lão Giác Dũng do quý tăng sư và cư sĩ học trò của Trưởng lão thọ học và chia sẻ lại. Nguồn này hiện rất khiêm tốn và cần sự hỗ trợ của nhiều người. Quý Sư chỉ ghi chép và chia sẻ lại một phần nhỏ trong nguồn pháp này mà thôi.
Ngoài ra, những lời giảng giải về thiền của các bậc thầy khả kính đương đại như Thiền sư Thanh Từ, Thiền sư Nhất Hạnh, Thiền sư Ajahn Mun, Thiền sư Ajahn Chah, Thiền sư Ledi Sayadaw, Thiền sư Webu Sayadaw, Thiền sư Mahasi Sayadaw, Thiền sư Goenka,… là những nguồn pháp bảo quý báu cho mọi người.
Ngày 25 tháng 2 năm Quý Tỵ (5/4/2013), Trưởng lão Giác Dũng viên tịch. Nguồn pháp và hướng đi mà Trưởng lão chỉ dạy vẫn luôn là chỗ dựa và định hướng của Phương Thảo Am.
Mọi sự vật hiện tượng luôn thay đổi. Đó là ngọn. Tâm mới là gốc. Trưởng lão đã dạy như vậy.
Ở đây, dù Trưởng lão Giác Dũng đã viên tịch, nhưng trong dòng thành hoại của vật chất, tinh thần của Trưởng lão luôn được tiếp nối.
Khi cơ sở vật chất đã tạm đủ, các lớp học pháp tu thiền đã hình thành, Phương Thảo Am đã trở thành điểm đến cho những ai muốn tìm cầu bình yên hữu duyên với phố núi.
10 nhà lưu trú nhỏ đơn sơ giống như am cỏ ngày xưa thầy dựng, đủ cho các tu sinh dừng chân tạm nghỉ. 1 thiền đường Không vách, có chỗ cho những giờ ngồi thiền tập trung và những buổi chia sẻ pháp tập thể. Lối đi thiền dẫn khắp khuôn viên. Việc đến đi, tùy duyên lưu trú của thiền giả trở nên tự nhiên. Xuân đến Phương Thảo viên cũng được. Đông rời Phương Thảo am cũng vui. Tự tại, vô ngại và thanh thoát trên mọi lối đi nẻo về.
Nhóm thiền Vipassana V2, Anapanasati A2 hình thành. Thiền sinh bắt đầu tích cực chung tay xây dựng cơ sở.
Ở đây, thiền đã là chất sống của Phương Thảo Viên.
Người về học thiền ngày càng đông, Phương Thảo Am cần một thiền đường mới. Duyên lành hội đủ, Thiền đường Bình Yên đã được dựng xong trong năm 2015 với nguồn tịnh tài do Phật tử Yến Ngọc và các thiền sinh trong các nhóm thiền cúng dường.
Thiền sinh tích cực tham gia tổ chức học tập. Cơ sở vật chất được hoàn thiện hơn.
Phương Thảo Am bình yên hơn. Nhưng bình yên lâu bền không có bên ngoài. Bình yên thực thụ chỉ có trong tâm mỗi hành giả. Đức Phật, các vị Tổ, các vị Thầy đều dạy như vậy. Ai ai đến học thiền ở Phương Thảo Am cũng được hướng dẫn sống chậm lại, dừng lại, nương theo hơi thở, quay về bên trong. Quan sát tâm mình cho kỹ, bình yên có mặt ở đó.
Đã 3 năm sau ngày Trưởng lão viên tịch. Gần 5 năm từ khi Phương Thảo Am thành hình. Phương Thảo Am vẫn bình yên như xưa. Truyền vào đó là tâm lực của nhiều hành giả, kể cả những hành giả sơ cơ. Các lối đi thiền ở đây đã dẫn đường và nâng bước cho nhiều đôi chân bao phen lạc lối. Thiền đường Bình Yên đã che chở cho bao người nhẹ lướt qua giông tố cuộc đời.
Hình ảnh của Đức Thế Tôn, hình ảnh của Tôn sư Minh Đăng Quang, hình ảnh của Trưởng lão Giác Dũng được tôn trí trên Thiền đường Bình Yên đã trở thành chỗ dựa tâm linh cho hành giả nơi đây.
Nhóm thiền Căn bản B2, nhóm thiền Vipassana V3 hình thành như những thiện duyên.
Sự hướng dẫn của thầy chỉ là một nhịp cầu tiếp nối nhịp cầu, góp một chút duyên nho nhỏ giúp hành giả tìm về với những giá trị tâm linh cao quý mà Đức Thế Tôn đã dạy.
Thầy trò Phương Thảo Am tiếp bước tìm về. Từ ngoài vào trong. Đó là tâm. Đó là Phật. Đó là Bình Yên. Đó là Niết-bàn.
Một chặng đường của Phương Thảo Am đã qua.
Một hành trình mới bắt đầu.
Mọi thứ đang đổi thay.
Đức Phật dạy:
Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỷ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. (Kinh Alagaddùpama sutta, MN.22)
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tắc kiến Như Lai. (Kinh Kim Cang)
***
Với sự chung tay góp sức của Phật tử Thiện Thành, Ngọc Phượng, Thiện Thạnh, Như Lý và nhiều Phật tử thân hữu xa gần, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của chư Tôn đức BTS Phật giáo và các vị quản lý hành chính các cấp trong tỉnh Đăk Lăk, TỊNH XÁ NGỌC PHƯƠNG được chính thức thành lập vào tháng 11 năm 2017 trên cơ sở Phương Thảo Am này. Theo đó, Ban hộ tự chính thức được thành lập do quý Phật tử thiền sinh PTA đảm nhiệm. Ban hộ tự kết nối cùng nhiều thiền sinh PTA chung tay xây dựng Tịnh xá, hoàn thiện các thủ tục pháp lý để Phật tử nương tựa tu tập.
Tịnh xá hình thành ổn định.
Phương Thảo Am vẫn như xưa.
Thiền sinh tới lui tu tập đều đặn với tinh thần “học nơi sự thực hành kinh nghiệm” mà Tổ sư đã chỉ dạy.
Bây giờ là phút giây an bình của mọi người.
Tỉnh thức nhận ra điều đó.
* * *
Để nuôi dưỡng bình an lâu dài, người chưa hoàn toàn ngộ đạt thì phải học tập và thực hành liên tục.
Vua Trần Thái Tông có câu:
Thiên giang hữu thủy thiên giang nguyệt/ Vạn lý vô vân vạn lý thiên. Nghĩa là ngàn sông có nước ngàn trăng hiện, vạn dăm không mây vạn dặm trời.
Có không tùy duyên sinh khởi.
Chân thể vốn vậy trước không gian thời gian. Ẩn hiện thì tùy duyên.
* * *
Với người cầu đạo, bóng của bậc chân nhân là duyên không thể thiếu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các Tôn giả đệ tử của ngài, chư vị Tổ sư qua các thời đại, Ngài Khương Tăng Hội, đức Tổ sư Minh Đăng Quang, và nhiều bậc thầy lớn dù đã viên tịch… mà như vẫn còn đây!
Theo gót người xưa, hậu học phải học vậy!
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Bậc Giác Ngộ, sống vào khoảng năm 563 đến 483 trước công nguyên. Tên họ của Ngài là Siddhattha Gotama. Bồ-tát Siddhattha Gotama đản sinh trong một gia đình họ Gotama (Cồ-Đàm), tộc Sakya (Thích-Ca). Cha là Suddhodana và mẹ là Mahāmāyā, trị vì một vương quốc nhỏ thuộc vùng Kapilavatthu, gần biên giới Ấn Độ – Nepal ngày này.
Ở tuổi 29, Bồ-tát Siddhattha rời bỏ hoàng cung, xuất gia tìm đạo. Sau 6 năm tu luyện, Bồ-tát đạt thành quả vị giác ngộ tối thượng, và được người đương thời tôn xưng là Buddha, là Phật, là Bậc Giác Ngộ, và nay chúng ta gọi là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một nhân cách vĩ đại của lịch sử. Đức Phật dạy con đường chuyển hóa trung hoà, gọi là Dhamma, là Pháp. Ngài nhập niết-bàn ở tuổi 80 sau 45 năm giảng dạy.
Sau hơn 2500 năm, hình ảnh của Đức Phật là một con người với lòng thương yêu vô bờ và sự hiểu biết cao tột cho đến nay vẫn hiện thân khắp chốn. Trong tâm của người học Phật, hình ảnh một Đức Phật hiền từ, đầy tình thương dành cho con người cùng vạn vật sanh linh. Ngài là hiện thân của hiểu biết siêu tuyệt, hiểu tận nguồn nỗi đau mà lắm khi chính con người mang nỗi đau đó không hiểu hết. Từ tình thương đó, từ hiểu biết đó mà ngày nay chúng ta mãi thấy vạn vạn cánh hoa hằng ngày vẫn được dâng lên Đức Phật với vô số lần lặp lại lời nguyện: Con nguyện quay về nương tựa Phật (Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi).
Ngày nay, nhân cách vĩ đại của Đức Phật vẫn tỏa sáng, giáo pháp của Ngài vẫn dẫn bước bao khách lữ hành về chốn bình an của Niết-bàn tối thượng.
Tôn Sư Minh Đăng Quang là vị Tổ khai sáng Đạo Phật Khất sĩ tại Việt Nam với chí nguyện “Nối truyền Thích Ca Chánh Pháp”, một truyền thống Phật giáo biệt truyền tại miền Nam Việt Nam vào giữa thế kỷ 20.
Tôn Sư Minh Đăng Quang sinh ngày 26 tháng 9 năm Quí Hợi (1923) tại làng Phú Hậu, tổng Bình Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Khoảng năm 1938 (15 tuổi), với lòng khát cầu chơn lý giải thoát của Đạo Phật, Tôn Sư đã sang Nam Vang (Campuchia) tìm thầy học đạo. Sau khi học Phật một thời gian ngắn, Tôn Sư trở về Việt Nam tự tu tự nghiệm con đường khai mở trí huệ hướng đến giải thoát.
Năm 1944 (21 tuổi), sau khi đã nắm yếu lý của con đường giác ngộ giải thoát, Tôn Sư bắt đầu thực hành chuyên sâu, giữ hạnh khất sĩ, giới luật nghiêm trì, chuyên tâm thiền định, khai mở trí tuệ. Đến năm 1946 (23 tuổi), con đường giác ngộ giải thoát đã thông, thiền tâm tịnh lặng sáng tỏ đã ngộ, Tôn Sư bắt đầu thâu nhập đệ tử, mở lập tăng đoàn, thực hành hạnh du tăng Khất sĩ, nối truyền Chánh pháp của đức Thích ca.
Tôn Sư Minh Đăng Quang chỉ hành đạo trong thời gian 8 năm, vào ngày 01 tháng 02 năm Giáp Ngọ (1954), ở tuổi 31, ngài dặn dò đệ tử lần cuối rồi ra đi theo hạnh nguyện. Tôn Sư vắng bóng từ đó.
Trưởng lão Giác Dũng là vị thầy hướng dẫn tinh thần của Phương Thảo Am. Dù Trưởng lão đã viên tịch, tinh thần ấy vẫn uyên nguyên. Đạo hạnh và lời dạy của Ngài luôn là chỗ dựa tinh thần cho đường hướng học tập và ứng dụng thiền của những người học đạo về Phương Thảo Am.
Trưởng lão Giác Dũng sinh ngày 15 tháng 8 năm Kỷ Mão (27/9/1939), tại Đập Đá, An Nhơn, Bình Định. Năm 1964, Trưởng lão xuất gia với Đức Thầy Giác An, đệ tử lớn của Tôn Sư Minh Đăng Quang. Năm 1965, Trưởng lão thọ giới Sadi. Năm 1969, Trưởng lão thọ giới Tỳ-kheo. Sau khi học pháp Thiền của Tôn sư Minh Đăng Quang qua sự hướng dẫn của Đức Thầy Giác An, Trưởng lão chuyên tu thiền quán và thực hành hạnh lợi tha gieo duyên cho những người sơ cơ hướng về với Phật Pháp.
Trong Giáo hội Khất sĩ, Trưởng lão Giác Dũng là một bậc thầy lớn giàu kinh nghiệm về thiền, có tâm lực đạo lực uy dũng và có lòng từ bi vô lượng. Hơn 40 năm học tu Pháp Phật, và hơn 20 năm tham gia lãnh đạo giáo đoàn, giáo hội, để hành đạo độ đời, Trưởng lão được nhiều người từ nhiều giai tầng xã hội kính ngưỡng theo học.
Cũng như các thế hệ bậc thầy của mình, sau khi việc cần làm đã làm, Trưởng lão Giác Dũng đã an nhiên thị tịch tại chánh điện Tịnh xá Ngọc Quang, lúc 9 giờ 45 ngày 25 tháng 02 năm Quý Tỵ (5/4/2013). Sự an nhiên thị tịch của Trưởng lão, với những lời giáo huấn cuối cùng về vai trò của thực hành thiền trên đường tu Phật, với tâm vượt qua sanh già bệnh chết, thể hiện rõ tinh thần giải thoát của đạo Thiền, Trưởng lão đã gióng lên hồi chuông tỉnh thức trong cộng đồng Phật giáo và cho tất cả những ai còn đang say mộng hồng trần…
Bây giờ, tỉnh thức là việc của chúng ta.