Địa Chỉ
Số 7 Nguyễn Hữu Thấu (nối dài), Khối 7, Phường Tân Lợi, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk.
Địa Chỉ
Số 7 Nguyễn Hữu Thấu (nối dài), Khối 7, Phường Tân Lợi, TP. Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk.
PTA Meditation Center
PTA Meditation Center
Một trong những sợi chỉ đỏ tư tưởng trong bộ Chơn Lý là sự kết hợp giáo lý ngũ uẩn với giáo lý duyên khởi, đồng thời soi sáng từng chặn phát triển theo chiều hướng cái sau là cái tiến hóa từ cái trước, cao hơn cái trước và có khi trong một khía cạnh nào đó có tính phủ định cái trước. Nói cách khác, Chơn Lý đã vận dụng nguyên lý duyên khởi để diễn bày ngũ uẩn. Với cách nhìn này thì mỗi uẩn trong 5 uẩn đã giảm hẳn tính độc lập, cục bộ; ngược lại chúng gắn kết, nương tựa nhau; cụ thể là uẩn có trước làm duyên cho uẩn có sau “Như đất, nước, lửa, gió, nóng, lạnh, dung hợp sanh thọ cảm“.
Điều thú vị là nguyên lý tương tức trong hệ thống tư tưởng Kinh Hoa Nghiêm được diễn đạt một cách rất nhẹ nhàng và gần gũi với mọi người. Hình tượng con sư tử vàng hay mạng lưới của vua trời Đế thích dù nghĩa bóng hay nghĩa đen đều tương đối xa lạ với nhận thức phổ thông của người Việt Nam. Tuyệt đại đa số người Việt Nam chỉ có thể tưởng tượng mà không thể thấy qua hay sờ qua hai điều đó, nhưng ai cũng đã từng thấy cái bánh, sờ cái bánh, thậm chí ăn cái bánh. Vì tính phổ thông, gần gũi, thân thiết này mà cái bánh được vận dụng đễ diễn đạt quan điểm tương tức giữa các pháp; cụ thể là giữa các uẩn và sự hình thành của chúng: “…có nước, có bột, rồi làm thành bánh; ấm hay là uẩn đây là bánh, mà cũng là nước và bột…“
Trước hết Chơn Lý định nghĩa sắc uẩn rồi tìm nguồn gốc hay nhân duyên của sắc uẩn. Sắc uẩn có nguồn gốc là “không”; “không” ở đây được định nghĩa: “không là sự thay đổi không thường của quả địa cầu, khi nổi khi xẹp.” Ngôn ngữ đơn giản và cụ thể như vậy nhưng người đọc có thể hiểu một cách trừu tượng hơn: “không” ở đây chỉ cho tính không-có-thực-thể-cố-định. Vì không-có-thực-thể-cố-định nên sắc và không là hai phạm trù tương đối, lung linh, uyển chuyển, có khi tới mức độ sắc là không, không là sắc. “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.” Ý tứ này được Chơn Lý diễn giải rằng trong không có sẵn sắc, không là nguồn gốc hay nhân duyên của sắc uẩn. Thú vị một cách bất ngờ là ngay sau câu kết luận “Sắc uẩn vốn sẵn nơi không” hay không là nhân duyên của sắc uẩn thì câu kế lại phủ định ngay “Sắc uẩn không có nhân duyên chi cả…”. Triển khai ý tứ này thay vì dùng những từ cao siêu, kinh viện như “vô thủy”, “vô chung”, “hằng hữu” thì Tổ sư lại mỉm cười nhẹ nhàng nói: “vì nó là cái có không đầu không đuôi, tự nhiên như vậy”. Ảo diệu hơn nữa, sau khi phủ định lại là một cuộc tái lập: “cũng có thể nói: quả địa cầu trước kia là nhơn, sau đến lúc tan hoại là duyên, có nhơn duyên đó mới sinh ra sắc uẩn, là quả địa cầu hiện tại.” Dĩ nhiên, giới nghiên cứu triết học Phật giáo có thể ghi nhận rằng khi nói “quả địa cầu trước kia là nhơn, sau đến lúc tan hoại là duyên, có nhơn duyên đó mới sinh ra sắc uẩn” thì Chơn Lý đã tiến rất gần với quan niệm về Đẳng vô gián duyên của hệ thống triết học nhân duyên của nhà Phật. Vấn đề đã đến chỗ tinh tế vi diệu nên khó có thể đặt vấn đề đúng và sai trên bề mặt chữ nghĩa. Chỉ khi nào khái niệm Đẳng vô gián duyên được triển khai xa hơn nữa như trường hợp của Nhất thiết hữu bộ hay Kinh lượng bộ thì giới nghiên cứu mới bắt đầu có thể quyết định được quan niệm như vậy có mối liên quan như thế nào với quan niệm truyền thống tinh khôi của Phật giáo.
Rời khỏi thế giới triết học, trở về với thế giới của Chơn Lý thì người đọc có thể nói rằng ý tưởng và ngôn ngữ ảo diệu trong Chơn Lý làm cho người đọc nhớ lại trình tự nhận thức của một hành giả. Trước kia thấy núi là núi, sông là sông; khi tu tập thì thấy núi không là núi, sông không là sông; sau khi tu tập lại thấy núi là núi, sông là sông.
M.T.